Khi nghề luật vượt ra khỏi biên giới quốc gia: Vì sao ULAW mở rộng đào tạo bằng ngoại ngữ?

Ngoại ngữ trong đào tạo luật không còn chỉ là kỹ năng bổ trợ hay điều kiện hoàn thành chuẩn đầu ra. Trước sự thay đổi của thị trường pháp lý, ULAW đang đưa ngoại ngữ vào quá trình hình thành năng lực chuyên môn, giúp người học có thể nghiên cứu, tư duy và làm việc trong môi trường quốc tế.

Một chuyên viên pháp lý trẻ hôm nay có thể bắt đầu ngày làm việc bằng việc rà soát hợp đồng tiếng Anh, tiếp tục nghiên cứu quy định của Việt Nam về đầu tư nước ngoài, trao đổi với bộ phận quản trị của một doanh nghiệp Nhật Bản, rồi kết thúc bằng cuộc họp trực tuyến với luật sư hoặc đối tác ở quốc gia khác.

Trong cùng một hồ sơ, người làm nghề có thể phải xử lý pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế, tập quán thương mại và các điều khoản được xây dựng theo thông lệ nước ngoài. Ranh giới của nghề luật vì thế không còn dừng lại ở biên giới quốc gia.

TS. Lê Trường Sơn – Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh – nhấn mạnh: “Học ngoại ngữ không chỉ để giao tiếp. Điều quan trọng hơn là người học phải có khả năng tư duy, phân tích và làm việc bằng ngoại ngữ trong lĩnh vực chuyên môn. Chính vì vậy, ULAW tăng cường các học phần chuyên ngành bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật và tiếng Trung; sử dụng học liệu quốc tế; đồng thời mở rộng hợp tác với các trường đại học và chuyên gia nước ngoài. Mục tiêu của Nhà trường là để sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể tự tin làm việc trong môi trường quốc tế, chứ không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng một chứng chỉ ngoại ngữ”.

Nhận định ấy phần nào lý giải việc từ năm 2026, ULAW tổ chức lại hệ thống đào tạo với 12 chương trình thuộc 4 ngành: Luật, Luật thương mại quốc tế, Quản trị kinh doanh và Quản trị – Luật. Phần lớn chương trình được thiết kế với nội dung đào tạo bằng ngoại ngữ hoặc định hướng hội nhập quốc tế.

 

Khi “biết ngoại ngữ” chưa đủ để hành nghề

Trong nhiều năm, ngoại ngữ ở bậc đại học thường được tổ chức thành những học phần riêng. Sinh viên học ngôn ngữ, thi chứng chỉ và hoàn thành yêu cầu đầu ra, trong khi phần lớn kiến thức chuyên môn vẫn được tiếp nhận bằng tiếng Việt.

Tuy nhiên, biết giao tiếp bằng ngoại ngữ chưa đồng nghĩa với khả năng làm việc bằng ngoại ngữ. Một sinh viên có thể đạt chuẩn ngôn ngữ nhưng vẫn gặp khó khăn khi đọc hợp đồng thương mại quốc tế, phân tích án lệ nước ngoài, sử dụng thuật ngữ pháp lý hoặc trình bày lập luận trước đối tác quốc tế.

Khoảng cách giữa “học ngoại ngữ” và “hành nghề bằng ngoại ngữ” chính là vấn đề các chương trình mới cần giải quyết. Ngoại ngữ phải được đưa vào quá trình hình thành năng lực nghề nghiệp, để người học sử dụng trong nghiên cứu tài liệu, thảo luận tình huống, soạn thảo văn bản, đàm phán và trình bày quan điểm pháp lý.

Khi đó, ngoại ngữ không đứng bên cạnh kiến thức luật mà trở thành phương tiện để người học tiếp cận và vận dụng kiến thức luật.

Nghề luật đã quốc tế hóa trước chương trình đại học

Sự thay đổi trong đào tạo bắt nguồn trước hết từ thực tiễn nghề nghiệp.

Các doanh nghiệp ngày càng mở rộng đầu tư, thương mại và cung ứng dịch vụ ra ngoài lãnh thổ. Một hợp đồng có thể được ký giữa các bên thuộc nhiều quốc gia; luật áp dụng có thể không phải pháp luật Việt Nam; tranh chấp có thể được giải quyết tại một trung tâm trọng tài quốc tế; tài liệu và quá trình thương lượng có thể hoàn toàn bằng ngoại ngữ.

Bên cạnh đó, người làm luật đang phải xử lý những vấn đề ngày càng gắn với kinh tế và công nghệ như thương mại điện tử, bảo vệ dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, quản trị doanh nghiệp, tuân thủ, phòng, chống rửa tiền và tài sản số. Họ không chỉ cần biết một quy định được viết như thế nào, mà còn phải hiểu quy định ấy tác động ra sao đến mô hình kinh doanh, dòng vốn, hệ thống công nghệ hoặc quyết định quản trị.

Nói cách khác, không phải đến khi trường đại học đưa tiếng Anh vào giảng đường thì nghề luật mới bắt đầu hội nhập. Chính nghề luật đã quốc tế hóa trước, buộc chương trình đào tạo phải thay đổi để theo kịp.

Mỗi chương trình, một không gian nghề nghiệp

Điểm đáng chú ý trong hệ thống mới của ULAW không chỉ nằm ở số lượng chương trình, mà còn ở cách các lộ trình được phân hóa theo lĩnh vực chuyên môn, ngôn ngữ và định hướng nghề nghiệp.

Riêng ngành Luật có các chương trình hội nhập quốc tế định hướng luật công hoặc luật tư bằng tiếng Anh; định hướng luật tư bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Nhật; chương trình song bằng quốc tế Arizona; cùng chương trình Luật quốc tế hóa bằng tiếng Anh. Bên cạnh đó là chương trình Luật thương mại quốc tế, Quản trị kinh doanh hội nhập quốc tế và chương trình song ngành Luật – Quản trị kinh doanh bằng tiếng Anh.

Sự phân hóa này cho thấy ngoại ngữ không được sử dụng như một nhãn chung cho tất cả các ngành học. Tiếng Anh giúp người học tiếp cận môi trường pháp lý của thương mại, đầu tư và tài chính xuyên biên giới. Tiếng Pháp mở ra khả năng nghiên cứu truyền thống luật thành văn và không gian Pháp ngữ. Tiếng Nhật gắn với nhu cầu nhân lực của cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam. Chương trình song bằng Arizona tạo điều kiện tiếp cận hệ thống Common Law và môi trường đào tạo quốc tế.

TS. Lê Trường Sơn cho biết: “ULAW không hướng đến việc đào tạo những cử nhân giống nhau, mà xây dựng nhiều lộ trình để mỗi sinh viên có điều kiện phát huy tốt nhất năng lực, sở trường và định hướng phát triển của mình. Người học ngày nay không chỉ quan tâm mình học ngành gì, mà còn quan tâm sau khi tốt nghiệp sẽ có năng lực gì, có thể làm việc ở đâu và tiếp tục phát triển theo hướng nào”.

Điều ULAW đang xây dựng vì thế không phải là nhiều phiên bản ngôn ngữ của cùng một chương trình, mà là những lộ trình giúp người học tiếp cận các hệ thống pháp luật và không gian nghề nghiệp khác nhau.

Chuẩn bị nhân lực cho một thành phố hội nhập

Việc mở rộng đào tạo bằng ngoại ngữ diễn ra trong thời điểm TP.HCM đẩy mạnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đặc biệt, việc xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế đặt ra nhu cầu về đội ngũ có khả năng làm việc theo chuẩn mực toàn cầu. Đằng sau mỗi dòng vốn, sản phẩm đầu tư hoặc giao dịch xuyên biên giới là hệ thống hợp đồng, nghĩa vụ tuân thủ, quy tắc quản trị và cơ chế giải quyết tranh chấp.

Nhân lực pháp lý phục vụ không gian này phải hiểu pháp luật doanh nghiệp, đầu tư, tài chính, chứng khoán, dữ liệu và tài sản số; đồng thời có thể trao đổi với nhà đầu tư, định chế tài chính, chuyên gia và luật sư nước ngoài.

Trong môi trường ấy, ngoại ngữ không còn chỉ là một lợi thế giúp hồ sơ xin việc nổi bật hơn. Nó trở thành điều kiện để công việc có thể được thực hiện.

Giá trị của một chương trình đào tạo bằng ngoại ngữ, do đó, không nằm ở số môn được giảng dạy bằng tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Nhật. Giá trị ấy chỉ xuất hiện khi sinh viên có thể dùng ngoại ngữ để đọc tài liệu gốc, phân tích hợp đồng, nhận diện rủi ro, trình bày quan điểm và giải quyết vấn đề chuyên môn.

Câu hỏi quan trọng không phải là sinh viên ULAW sẽ học thêm bao nhiêu ngoại ngữ, mà là ngoại ngữ sẽ giúp họ làm được điều gì mà trước đây họ chưa thể làm.

Điều ULAW đang mở rộng vì thế không chỉ là số lượng chương trình đào tạo bằng ngoại ngữ. Điều Nhà trường thực sự mở rộng là khả năng để sinh viên bước vào nhiều hệ thống pháp luật, nhiều không gian nghề nghiệp và một thế giới ngày càng liên kết chặt chẽ – với nền tảng pháp lý Việt Nam vững chắc, tư duy hội nhập và năng lực làm việc thực chất.

Thực hiện: Phòng Truyền thông và Quan hệ Doanh nghiệp

Top